Điều trị vỡ xoang hàm gò má

15/10/2016 14:08

Điều trị

Điều trị nội khoa: bệnh nhân vỡ hàm gò má ít di lệch hoặc không di lệch: các dâu hiệu lâm sàng bình thường và khám mắt bình thường có thể điều trị bảo tồn. Điều tri nội khoa bao gồm ăn thức ăn mềm, thuốc giảm đau vă theo dõi sát, đánh giá lại lần nữa khi tình trạng sưng nề đã hết.

Điều trị ngoại khoa: Những trường hợp vỡ hàm gò má di lệch nhiều có ảnh hưởng về chức năng hoặc thẩm mỹ đòi hỏi phải phẫu thuật chỉnh hình. Phần lớn các phẫu thuật chỉnh hình vỡ xoang hàm gò má là chỉnh hình kín; nâng xương và cô” định bằng cách chèn bấc, một sô” phải chỉnh hình mở cô” định bằng chỉ thép hoặc bản vít. sửa chữa thành công vỡ hàm gồ má đòi hỏi phải chẩn đoán chính xác, bộc lộ thích hợp, chỉnh hình đúng và tái tạo 3 chiều.

  • Chỉ định

Can thiệp ngoại khoa được chỉ định ở những bệnh nhân có tổn thương làm biên dạng về thẩm mỹ và ảnh hưởng về chức hăng, bao gồm:

Biến dạng về thẩm mỹ:

Lõm gò má.

Lõm hoặc lồi cung gò má.

Thay đổi về chức năng:

-> Lồi mắt nhiều và hội chứng đỉnh ổ mắt là những chỉ định ngoại khoa cấp cứu.

-ỳ Rối loạn chức năng của các cơ ngoại nhẵn: bầm giập cơ, phù nề mô tại chỗ, kẹt cơ ngoại nhãn. Phù nề và bầm giập thường tự hết mà không có di chứng lâu dài. Tuy nhiên kẹt cơ thì không tự giải quyết được. Hoại tử cơ kèm theo song thị kéo dài có thể xảy ra nếu kẹt cơ không được giải phóng.

-> Lệch nhãn cầu: lõm mắt hoặc lồi mắt sau chấn thương. Song thị cấp đòi hỏi phải can thiệp ngoại khoa.

-ỳ Vỡ sàn ổ mắt nhiều: lõm sàn ổ mắt rộng đưa đến lõm nhãn cầu và nhãn cầu bé về lâu dài. Định nghĩa tổn thương sàn ổ mắt có ý nghĩa thay đổi tùy tác giả. Tuy nhiên tổn thương 25-50% sàn ổ mắt có nguy cơ lõm mắt về lâu dài. Ớ những bệnh nhân này nên phẫu thuật thăm dò và sửa chữa ngoại khoa.

-> Khít hàm.

-> Lệch khớp cắn.

Tổng quan về các phương pháp phẫu thuật chỉnh hình vỡ xoang hàm gò má

Tổng quan lịch sử các phẫu thuật chỉnh hình xoang hàm gò má:

Năm 1906, Lothrop là người đầu tiên mô tả chỉnh hình xương gò má qua xoang hàm. Phương pháp này bao gồm thực hiện một lỗ thông mũi xoang ở khe dưới, đưa một dùi cong qua lỗ mở thông xoang hàm, tiếp xúc với thành bên, thành trên của xoang hàm để nâng xương gò má. Kết quả được cảm nhận bằng tay kết hợp với sờ nắn bên ngoài sau đó cô” định bằng cách chèn bấc.

Năm 1909, Keens mô tả phương pháp chỉnh hình vỡ xoang hàm gò má qua đường ưong miệng, một dụng cụ nâng nhọn được dùi qua niêm mạc hướng về phía sau của ngách miệng trên. Đưa dụng cụ luồn qua phía sau cung gò má. Chỉnh hình qua áp lực của dụng cụ nâng. Chỗ thủng niêm mạc không cần phải khâu lại. Năm 1957, Gillies và Millard mô tả kỹ thuật tiếp cận vỡ xương gò má qua một đường rạch ngắn khoảng 2-3cm sau chân tóc, rạch qua cân cơ thái dương, đưa dụng cụ nâng trượt xuống phía sau cung gò má. Xương gồ má được chỉnh hình bằng cách tác động một lực ra trước và ra ngoài, phối hợp với hướng dẫn của bàn tay đối diện.

Năm 1964, Dingman và Natvig đã nhận xét: “trong khi kỹ thuật chỉnh hình kín phổ biến và hấp dẫn khi xử trí vỡ xương gò má, các nhà phẫu thuật nhiều kinh nghiệm có thể nhanh chóng nhận thây rằng: trong nhiều trường hợp, phương pháp chỉnh hình kín có những mặt hạn chế của nó.” Chỉnh hình mở bắt đầu ra đời và sử dụng các phương pháp cố định bằng chỉ thép hoặc bảng vít.

Các đường vào:

Sau khi gây mê nội khí quản, phẫu thuật viên đánh giá xem có rách da chỗ nào không mà có thể sử dụng để chỉnh hình vỡ xương hoặc đặt bảng vít.

Những đường vào thông thường là đường theo rãnh lợi môi, đường gờ ngoài ổ mắt, đường theo mi dưới và đường rạch da đầu hình vòng cung.

Đường rạch ở rãnh lợi môi: Đường này có thể được sử dụng để chỉnh hình và đặt bảng vít ở mâu gò má hàm và mấu gò má ổ mắt ở bờ dưới ổ mắt.

Đường bờ ngoài Ổ mắt: được dùng trong những trường hợp chỉnh hình và cô’ định bằng bảng vít đối với mấu gồ má trán không thể thực hiện qua đường rạch rãnh lợi môi.

Đường vào mi dưới: có thể che dấu sẹo mổ nhưng có thể đưa tới sau mổ bị lộn mí ra ngoài hoặc lộn mí vào trong và bộc lộ giác mạc. Thường được dành cho những trường hợp di lệch từ vừa đến nặng đòi hỏi phải bộc lộ cả 3 mấu để chỉnh hình thích hợp (hiển nhiên những trường hợp vỡ vụn, vỡ riêng lẻ bờ dưới ổ mắt đòi hỏi đường rạch mi dưới để chỉnh hình).

Đường rạch da đầu theo hình vòng cung: Dùng cho những ưường hợp vỡ vụn nặng hàm gò má kèm với vỡ cung gò má. Đường mổ này có nhược điểm là có thể thấy sẹo và tê da đầu. Nguyên tắc chung, phẫu thuật viên nên tiếp tục bộc lộ ổ gãy cho đến khi chỉnh hình được và cô” định để ổn định về chức năng.

Xử trí thương tổn tùy theo vị trí tổn thương

Mấu gò má hàm: Mâu gò má hàm thường bị gãy trong tổn thương 4 chân kiềng, sử dụng đường rạch ở rãnh lợi môi để bộc lộ vùng này. Đường rạch này được che dâu tốt, không thây sẹo ở ngoài và bộc lộ được toàn bộ bề mặt xương hàm. Sau khi vỡ xương đã được chỉnh hình, đặt bảng vít hình chữ L để cô” định hàm gồ má và xương khẩu cái.

Mấu gò má trán: Với những tổn thương nặng nề hơn, mâu gò má trán thông thường là mâu thứ hai được bộc lộ. Ba đường tiếp cận thường gặp nhất đôi với mâu gò má trán là đường chỉnh hình mí mắt trên ngoài và đường ngoài cung mày, đường Vĩ vòng cung.

Mấu dưới ổ mắt: Đường rạch da theo bờ ổ mắt, xuyên kết mạc hoặc dưới mi là 3 đường tiếp cận ngoại khoa chủ yếu đối với bờ dưới ổ mắt.

Vỡ cung gò má: Có 4 đường tiếp cận chính đối với vỡ cung gò má

Tiếp cận trực tiếp qua da: dùng cái móc xương móc xuyên qua da ở vị trí gẫy. Đưa dụng cụ sâu tới cung gò má và kéo ra phía ngoài để chỉnh hình xương vỡ. Thận trọng để tránh rách mô và tổn thương thần kinh mặt có thể xảy ra. Nếu như vỡ xương được chỉnh hình dễ dàng và ổn định khi sờ, không cần phải xử trí gì thêm. Khi có phù nề mô mềm nhiều, khó có thể đánh giá xương đã ổn định và chỉnh hình chính xác chưa.

Tiếp cận qua đường thái dương (Gillies). Phương pháp tiếp cận này đồi hỏi rạch da 2cm sau đường chân tóc thái dương áng chừng 6cm trên cung gò má. Rạch qua da, lớp cân thái dương đĩnh (cân thái dương nông), và lớp cân cơ thái dương (lớp cân thái dương sâu). Dùng dụng cụ cái bay để bóc tách một đường hầm nông tới cơ thái dương và sâu tới cung gò má (Gillies 1927).

Cẩn thận tránh sử dụng da đầu vùng đỉnh làm chỗ tỳ cho dụng cụ. Điều này có thể đưa tới vỡ xương sọ vùng đỉnh. Không cần thiết phải cô” định cứng trong trường hợp vỡ cung gồ má riêng lẻ.

Thuận lợi của phương pháp này bao gồm không thây sẹo mổ và bảo vệ dây thần kinh mặt.

Tiếp cận qua đường trong miệng. Tiếp cận qua đường trong miệng sử dụng đường rạch ở rãnh lợi môi. Bộc lộ chỗ bám phía trước của cung gò má và đặt dụng cụ nâng sâu tới cung gò má. Đặt lực ra phía ngoài để chỉnh hình xương vỡ. Tránh sử dụng cung răng như là điểm tỳ vì có thể làm vỡ xương khẩu cái.

Thuận lợi của phương pháp này là không có sẹo mổ.

Tiếp cận theo đường nửa vòng cung: Tiếp cận theo đuờng nửa vòng cung thường dành cho những trường hợp tổn thương nặng, vỡ vụn rõ phức hợp hàm gò má.

Chìa khóa để đi đến thành công của chỉnh hình mở là bám chặt vào những nguyên tắc cơ bản. Những nguyên tắc này bao gồm bộc lộ đủ (nhưng không quá mức), chỉnh hình chính xác, cố định chính xác khi cần.

Đặt bảng vít có thể tan được mang lại nhiều thuận lợi như đặt bảng vít bằng titanium. Mặt khác, nó có thể tan được trong khoảng thời gian từ 3-12 tháng. Chỉ định đầu tiên đôi với đặt bảng vít tan được là ở trẻ nhỏ, khi thời gian phát triển của xương mặt còn dài. Không giống như bảng vít bằng titanium, đường cong của bảng vít tan được dễ dàng nằm tại chỗ. Sau khi làm nóng bảng vít và làm ấm với nước, một chi tiết không chính xác nhỏ trong khi uốn cong cũng có thể sửa chữa được mà không khó khăn gì.

Bất lợi của bảng vít tan được là kích thước lớn và cần thiết phải gọt đẽo. Bảng vít tan được 2mm có nhiều thuận lợi hơn là bảng vít bằng titanium 2mm và khỏe tương đương với bảng vít l,6mm. Trong những vùng như bờ ổ mắt và phức hợp sàng mũi, bảng vít tan được có thể có lợi lớn. Tất cả ốc tan được đều đòi hỏi phải gọt đẽo trước khi đưa vào.

Chăm sóc sau mổ

Bệnh nhân được theo dõi trong vòng 24 giờ. Kháng sinh cho trong vòng 1-7 ngày tùy theo mức độ nhiễm của vết thương. Có thể dùng steroid đường chích để làm giảm phù nề sau phẫu thuật. Băng ép áp dụng cho đường rạch liên thái dương để tránh tụ máu sau mo. Kiểm tra thị lực hàng ngày, 48 giờ sau và cho đến khi xuất viện.

Theo dõi: cắt chỉ khâu da 5-7 ngày sau mổ. Khâu da đầu lấy đi sau 10-14 ngày sau mổ. Sau đó tái khám sau 1 tháng và sau 3 tháng.

Biến chứng

Mắt:

Song thị kéo dài có lẽ là biến chứng phổ biến của vỡ hàm gò má.

Biến chứng nghiêm trọng nhất kết hợp với vỡ xoang hàm gò má là mù mắt. Tình trạng này có thể xảy ra sau chấn thương, nhiều trường hợp mù mắt do thầy thuốc gây ra đã được báo cáo trong y văn (Lederman 1981). Do đó chủ yếu là khám mắt trước mổ, phẫu thuật viên cũng nên đánh giá kích thước đồng tử và sự đôi xứng của đồng tử trước khi chỉnh hình. Những thay đổi về kích thước đồng tử ữong khi mổ phải được đánh giá. Tê tại chỗ bằng chất có chứa epinephrine có thể gây dãn đồng tử thoáng qua. Dãn đồng tử trong khi kéo tỳ vào nhãn cầu là một dâu hiệu của tổn thương thần kinh thị giác.

Người ta khuyên nên đánh giá trong khi mổ kích thước đồng tử và sự đối xứng của đồng tử. Cần thiết kiểm tra thị lực sau mổ. Thay đổi thị lực nhẹ sau mổ có thể thay đổi thoáng qua lên tới 30% bệnh nhân (Crumley 1977) mất thị lực sau mổ nhiều có chỉ định mổ thăm dò lại ổ mắt, đặc biệt nếu đặt vật liệu ghép vào trong ổ mắt.

cây ngũ sắc chữa viêm xoang

thuoc nam tri viem xoang

viêm mũi xoang

Tags

Có thể bạn quan tâm

  • Vì sao bệnh viêm xoang gây biến chứng đường hô hấp?

    Vì sao bệnh viêm xoang gây biến chứng đường hô hấp?

  • Chào bác. cháu bị viêm dị ứng mũi, có phải là viêm xoang dự ứng không ạ,

    Chào bác. cháu bị viêm dị ứng mũi, có phải là viêm xoang dự ứng không ạ,

  • Bệnh viêm xoang nên kiêng ăn gì ?

    Bệnh viêm xoang nên kiêng ăn gì ?

  • Chữa bệnh viêm xoang bằng lá lốt

    Chữa bệnh viêm xoang bằng lá lốt

  • “Chia tay” viêm xoang nhờ tuyệt chiêu của vợ

    “Chia tay” viêm xoang nhờ tuyệt chiêu của vợ

  • Điều trị viêm xoang hiệu quả bằng thuốc Nam

    Điều trị viêm xoang hiệu quả bằng thuốc Nam

  • Chia sẻ cách trị viêm xoang ‘chuẩn đét’ của một Dược Sỹ

    Chia sẻ cách trị viêm xoang ‘chuẩn đét’ của một Dược Sỹ

  • Nhật ký của tôi: 8 tuần chiến đấu với bệnh viêm xoang

    Nhật ký của tôi: 8 tuần chiến đấu với bệnh viêm xoang

Mua ngay

Thông Xoang Tán