Loét họng thường xuyên do bệnh áp tờ

02/11/2016 22:32

1. Nguyên nhân
Bệnh Áptờ (Recurrent Aphthous Ulcers) là bệnh loét niêm mạc họng và miệng rất thường xảy ra, không do chấn thương. Tỷ lệ người bị bệnh chiếm từ 10 đến 20% dân số”. Bệnh thường xảy ra ỗ người có mức sông cao và làm các nghề nghiệp quan trọng. Nguyên nhân chưa được biết, nhưng nhiều yếu tố có thể góp phần gây bệnh đã được chứng minh như nhiễm trùng (loại Steptococcus sanguis), nhiễm siêu vi, nguyên nhân về dinh dưỡng (thiếu sinh tô’ B12, folic acid, sắt), bất thường về nội tiết, stress, chấn thương, dị ứng thức ăn loại đậu phộng, sôcôla, chất có nhiều protêin trong bột (glutens) và bất thường về miễn dịch. Bằng chứng rõ rệt nhất là bất thường về miễn dịch. Kháng thể tự miễn với niêm mạc miệng có phản ứng với lớp tế bào prickle (tế bào gai bì) nhiều hơn là với màng tế bào đáy. Phản ứng tự miễn cũng kết hợp với một kháng thể đáp ứng với
chất mucopolysaccharides bao quanh tế bào hình L của alpha – hemolytic streptococcus. Cũng có thể do một sự khiếm khuyết chất trung gian trong phản ứng miễn dịch tế bào, biểu lộ bằng cách gia tăng sô’ lượng của tế bào T nâng đỡ và giảm số lượng của tế bào t ức chế.
2. Biểu hiện lâm sàng
Có ba biểu lộ căn bản của bệnh Áptờ: Áptờ nhẹ, Áptờ nặng và Áptờ dạng Herpes. Cả ba hình thức nầy do cùng một nguyên nhân gây ra và là các thể khác nhau của cùng một bệnh.
Áptờ nhẹ: Thường chỗ loét có đường kính dưới lcm và ở vị trí vùng lợi sừng hóa, di động tự do được. Bệnh tích là vết loét trắng khu trú rõ với vòng màu đỏ bao quanh. Bệnh tích nầy thường lành từ 7 đến 10 ngày không để lại sẹo. Vùng bị bệnh trước khi bị loét có cảm giác bị kích thích hoặc như bị bỏng. Bệnh bị tái phát trong một thời gian rất khác nhau tùy người, và thường không bị lại một thời gian dài. cần điều trị giảm đau nhức vì bệnh nhân đau rất nhiều dù vết loét nhỏ..
Áptờ nặng: Còn có tên là bệnh Sutton hay viêm niêm mạc hoại tử quanh hạch hay tái phát (periadenitis mucosa necrotica recurrence). Bệnh tích nầy ít xảy ra hơn Áptờ nhẹ nhưng nặng hơn nhiều. Những nơi loét có kích thước từ 1 đến 3cm đường kính và có thể kéo dài từ 6 tuần đến nhiều tháng. Trái với Áptờ nhẹ, khi lành bệnh để lại sẹo.
Áptờ nặng cũng xảy ra ở vị trí bị áptờ nhẹ và thường lan rộng sang lưỡi, màng hầu mềm và trụ trước Amidan. Thường nhiều nơi bị loét, với chỗ loét mới bắt đầu hình thành khi chỗ loét cũ lành dần.
Áptờ kiểu Herpes: Là loại Áptờ có từ 20 đến 200 chỗ loét nhỏ kích thước từ 1 đến 3 mm đường kính, rất đau nhức. Các chỗ loét có thể xuất hiện trên phần sừng hóa, di động và phần bất động của nướu răng hoặc ở lưỡi và màng hầu… Dù bệnh tích giống Herpes, nhưng Áptờ kiểu Herpes khác với Herpes là không qua giai đoạn mọng nước. Bệnh nầy không do siêu vi gây ra; không cấy được siêu vi Herpes từ chỗ loét và kháng thể chống siêu vi Herpes và niêm mạc miệng không tìm được.

cách trị viêm mũi dị ứng hiệu quả

thuoc viem mui di ung

viêm mũi dị ứng thời tiết

3. Chẩn đoán phân biệt
Bệnh Áptờ có thể phân biệt với Herpes khi khám lâm sàng. Chỗ loét của bệnh Áptờ thường xảy ra trên niêm mạc sừng hóa tự do và không bị bóng nước trước đó; Bệnh tích Herpes thường có bóng nước dính chặt vào nướu răng và màng hầu trước khi vỡ ra thành chỗ loét. Các chỗ loẻt do chấn thương thường có bệnh sử chấn thương trước dó. Các chỗ loét do giang mai có bệnh cảnh lâm
sàng khác hơn và vi trùng giang mai được tìm thấy bằng các xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang.
BẢN TÓM TẮT BA THỂ BỆNH
Đặc điểm Áptờ nhẹ Áptờ nặng Áptờ kiểu Herpes
Phái Bằng nhau Bằng nhau Nữ > Nam
Tuổi bắt đầu 10-30  10-30  20-30
Số ổ loét 1-5  1-10  10-00
Kích thước < 10 mm 10 -30 mm 1 —3 mm
Thời gian bệnh 7-10 ngày 10 -30 ngày >30 ngày
Vị trí Bất cứ vị trí nào Bất cứ vị trí nào, trừ vùng lợi cố định trong miệng
Sẹo ít bị Có sẹo Có thể có khi chỗ loét lành
4. Điều trị:
Bệnh Áptờ dược điều trị bằng rất nhiều cách khác nhau như đốt bằng hóa chất, đốt điện, điều trị nội khoa.
Điều trị nội khoa gồm thuốc kháng sinh, kháng viêm, thuốc ức chế miễn dịch, ăn sữa chua, uống men tiêu hóa (Lactobacillus). Thuốc kháng sinh loại Tetracycline bột, uống ngày 4 lần, lần 200mg trong 5 đến 7 ngày cho kết quả tốt. Các loại steroids dùng tại chỗ làm mau lành bệnh đáng kể, nhất là khi vết loét chưa thành hình. Steroids uống hoặc chích chỉ dùng để giảm bệnh ngay trong trường hợp bị Áptờ nặng, với liều từ 20 mg đến 40 mg Prednisone mỗi ngày. Thời gian dùng thuốc là từ 7 đến 10 ngày, có thể tiếp tục thêm một tuần với liều thấp hơn.
Các thuốc kháng viêm nhiễm khác cũng có thể có ích lợi. Thuốc ức chế miễn dịch cũng được dùng rất có kết quả trong trường hợp Áptờ nặng.

Tags

Có thể bạn quan tâm

  • Những câu hỏi thường gặp về bệnh viêm xoang

    Những câu hỏi thường gặp về bệnh viêm xoang

  • Viêm mũi cấp tính – Nguyên nhân và cách điều trị

    Viêm mũi cấp tính – Nguyên nhân và cách điều trị

  • Sáng tỏ vai trò Đông – Tây y trong điều trị viêm mũi, viêm xoang.

    Sáng tỏ vai trò Đông – Tây y trong điều trị viêm mũi, viêm xoang.

  • Hải Hậu

    Hải Hậu

  • “Nếu không kiên trì bệnh viêm đa xoang đã khiến tôi gặp biến chứng về mắt”

    “Nếu không kiên trì bệnh viêm đa xoang đã khiến tôi gặp biến chứng về mắt”

  • Hạnh phúc đã mỉm cười khi không còn viêm xoang

    Hạnh phúc đã mỉm cười khi không còn viêm xoang

  • Giã từ 15 năm mắc bệnh “ác mộng” – viêm xoang

    Giã từ 15 năm mắc bệnh “ác mộng” – viêm xoang

  • MC Tuấn Tú -Từng khốn khổ vì viêm xoang mãn tính

    MC Tuấn Tú -Từng khốn khổ vì viêm xoang mãn tính

Mua ngay

Thông Xoang Tán